Mỹ cần tiêu chuẩn vàng hơn bao giờ hết

By on 25/06/2014
120797569

Cha đỡ đầu của nền kinh tế hiện đại, John Maynard Keynes, bác bỏ quan niệm vàng là tiền và cho rằng tiêu chuẩn vàng là một “di tích man rợ.” Trong khi đó, một người “khổng lồ” khác, người chiến thắng giải Nobel, ông Milton Friedman, lại thừa nhận rằng vàng chỉ tốt trên lý thuyết chứ còn lại là phi thực tế. Theo ông, sự trở lại của tiêu chuẩn vàng là điều “không mong muốn cũng không khả thi.”

Rõ ràng là cả Keynes và Friedman đều có những quan niệm sai lầm khủng khiếp.

Tiêu chuẩn vàng không hề man rợ mà cũng chẳng hề phi thực tế, ngược lại, điều này đang trở nên cần thiết hơn sau mỗi ngày. Nguyên nhân là do tiêu chuẩn tiền giấy đang hứng chịu nhiều thất bại. Chúng đang đẩy nhanh chuỗi các khủng hoảng mà càng về sau càng tồi tệ hơn trước. Các quốc gia không thể đi vay mãi mãi và Mỹ cũng chẳng thể chịu đựng được mức lãi suất cực thấp này vĩnh cửu.

Lịch sử chính là tấm gương phản ánh bối cảnh của vàng. Dưới chế độ vàng thế kỷ 19, chất lượng cuộc sống của hầu hết mọi người đều được cải thiện nhanh hơn bao giờ hết, ít nhất là từ khi đó trở về sau. Thật đáng tiếc là điều này không thể kéo dài bởi vì sau khi chuyển giao thế kỷ, công tác chuẩn bị chiến tranh đã đòi hỏi những khoản chi tiêu cực lớn.

Điều gắn liền với Đại chiến chính là nợ. Và chỉ có một cách để vay. Tại hầu hết các nước, ngân hàng trung ương đều được thành lập, thậm chí quốc gia tự do nhất thế giới cũng phải tạo ra một ngân hàng trung ương cho mình vào năm 1913. Họ gọi nó là Cục Dự trữ Liên bang.

Ngân hàng trung ương chỉ đơn giản là trung tâm thiết lập kế hoạch- chính phủ can thiệp- gom tiền và tín dụng. Tiêu chuẩn vàng chỉ đơn giản là một thị trường tự do về tiền bạc. Khi xung đột xảy ra trên thị trường tự do, vàng đã thua trận. Không phải ngẫu nhiên mà các nền kinh tế đều lần lượt sụp đổ sau chiến tranh.

Tất cả đã diễn ra quá sớm, những người đàn ông lại hành quân đi chiến tranh một lần nữa. Cho tới cuối cùng, phần lớn thế giới đều ngập ngụa trong đống đổ nát, giới lãnh đạo chính trị thì tuyệt vọng trong nỗ lực tìm kiếm tín dụng để đầu tư cho hoạt động tái thiết sau chiến tranh. Mỹ đã đặt tên các quy định của mình: các nước khác phải đối xử với đồng đô la Mỹ như thể nó là vàng. Đồng minh đã ký hiệp ước tại Bretton Woods ở New Hampshire.

Tuy nhiên, đồng đô la Mỹ không “đẹp đẽ” như vàng. Nó chỉ đơn thuần là tờ giấy hẹn trả nợ của một kẻ ất ơ nào đó. Éo le thay, nhu cầu tiền tệ trên thế giới càng lớn, chính phủ Mỹ càng phát hành nợ nhiều hơn, từ đó cho phép họ chi tiêu nhiều hơn. Cuộc khủng hoảng lên đến đỉnh điểm vào năm 1971, khi quyết định của Tổng thống Nixon đã tạo ra hệ thống tiền tệ hiện tại. Với chính sách của Nixon, đồng đô la chính thức trở thành một lời hứa sáo rỗng, chẳng được hỗ trợ bởi bất cứ điều gì.

Kể từ khi đó, chúng ta chứng kiến chế độ toàn cầu về một đồng tiền pháp định. Nợ bùng nổ, tăng gấp đôi trong suốt tám năm. Lãi suất tăng vọt cho tới năm 1981 và sau đó đi vào con đường rơi tự do. Hệ thống tài chính sẽ sớm sụp đổ mặc dù thời điểm thật khó dự đoán.

Vàng, với khả năng trao quyền cho người gửi tiết kiệm có thể giữ nợ và lãi suất trong giới hạn, sẽ ngăn ngừa thảm họa này.

Quan điểm đối lập chủ yếu dành cho vàng chính là việc chúng ta cần chính sách tiền tệ nới lỏng để có thể thoát khỏi suy thoái. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng năm 2008 đã bóc trần điều này. Những chuyên gia hoạch định chính sách tiền tệ của chúng ta đã không nhìn thấy nguy cơ sụp đổ sắp xảy ra, và các bản “vá lỗi” ngắn hạn của họ- gói kích thích kinh tế và cứu trợ- đã chẳng làm được gì nhiều. Khả năng sụp đổ vẫn hiện hữu.

Bên cạnh đó, nhiều người cũng tranh luận rằng chúng ta không có thật nhiều vàng để có thể gọi là đủ. Nhưng điều này rõ ràng hoàn toàn sai. Tiêu chuẩn vàng thế kỷ 19 đã được áp dụng chỉ với một vài trăm tấn kim loại ở London, một phần nhỏ so với những gì Mỹ đang có ngày hôm nay. Tranh cãi này thật là phù phiếm. Nếu thị trường được phép thiết lập giá trị của vàng, số lượng cụ thể là điều chẳng hề cần thiết.

Vẫn còn một lập luận nữa phản đối việc áp dụng vàng. Theo những người này, việc mất giá tiền tệ sẽ khuyến khích xuất khẩu, cải thiện thị trường việc làm và nền kinh tế. Cho đến hiện tại, đây vẫn là điều có thật. Một đồng tiền giảm sẽ khiến giá xuất khẩu hàng hóa của họ giảm đi trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, họ đã bỏ qua nguy cơ phá hủy vốn kinh doanh, tăng chi phí nhập khẩu, bao gồm các nguyên liệu thô. Lịch sử nền kinh tế Nhật đã chứng minh điều này. Đồng yen tăng cùng với xuất khẩu trong suốt nhiều thập kỷ. Kể từ năm 2012, đồng yên đã giảm và cán cân tương mại của Nhật cũng đang đi xuống từng ngày.

Tất cả mọi người đều sẽ tốt hơn dưới chế độ vàng. Ngay cả khi các nước khác vẫn trung thành với những đồng tiền mất giá, Mỹ nên áp dụng tiêu chuẩn vàng. Một đồng tiền ổn định sẽ cho phép người dân có cơ hội phát triển mạnh hơn. Thành phần chính cho sự thịnh vượng quốc gia chính là việc quy tắc vàng gắn liền với chi tiêu chính phủ.

Keynes đã sai khi cho rằng vàng là một di tích man rợ. Thực sự, nếu không có vàng, thế giới hiện tại sẽ còn man rợ hơn nhiều. Friedman cũng đã lầm khi nhận định vàng là thứ phi thực tế và nền kinh tế bấp bênh của phương Tây chứng minh điều này. Điều mà Mỹ cần hơn bao giờ hết, với vị trí  hàng đầu của mình trên thế giới, là một con đường hướng tới chế độ áp dụng vàng như tiền tệ.

Giavang.net

About Kim Tuyền

Sưu tầm: Nếu chia đều toàn bộ số vàng đang có cho dân số thế giới, mỗi người sẽ có khoảng 24 gam vàng, hay 0,8 ounce, tương đương khoảng 1.500 USD với thời giá hiện nay.

You must be logged in to post a comment Login